Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

DI SẢN TG TẠI CHÂU ÂU (1)

DI SẢN THẾ GIỚI TẠI CHÂU ÂU (4)
BKTT WIKIPEDIA
-o0o-
Stonehenge
Stonehenge là một công trình tượng đài cự thạch thời kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ đồng gần Amesbury ở Anh, thuộc hạt Wiltshire,13 km về phía bắc Salisbury.  Công trình này bao gồm các công sự bằng đất bao quanh một vòng đá, là một trong những địa điểm tiền sử  nổi tiếng thế giới. Các nhà khảo cổ cho rằng các cột đá này được dựng lên từ khoảng 2500-2000 trước Công nguyên dù các vòng đất xung quanh được xây dựng sớm hơn, khoảng 3100 năm trước Công nguyên.
Khu vực này và khu vực xung quanh đã được UNESCO  công nhận là Di sản thế giới  năm 1986.
Cung điện Westminster
Cung điện Westminster, cũng gọi là Tòa nhà Quốc hội hay Cung Westminster, ở London, Anh là nơi Lưỡng viện Quốc hội (Viện Nguyên lão và Viện Thứ dân)  nhóm họp. Lâu đài nằm ở bờ Bắc sông Thames ở Borough, London , gần  các tòa nhà chính phủ ở Whitehall.
Phần cổ nhất của tòa cung điện là Westminster Hall, vẫn còn tồn tại, có niên đại từ 1097. Cung điện ban đầu là nơi ở của vua nhưng không có vị vua nào ở đó từ thế kỷ 16 . Phần lớn cấu trúc của cung điện này được xây từ thế kỷ 19  khi nó được xây lại sau một trận hỏa hoạn thiêu rụi hầu như hoàn toàn năm 1834. Kiến trúc sư chịu trách nhiệm xây lại cung điện là Sir Charles Barry và Augustus Welby Pugin. Phần nhà Hạ viện được xây lại vào thập niên 1940 \vì đã bị đánh bom trong Đệ nhị thế chiến . Tòa nhà là một ví dụ của phong cách kiến trúc Gothic revival . Một trong những nét nổi bật của cung điện là tháp chuông đồng hồ Big Ben . Cung điện có 1100 phòng, các phòng quan trọng nhất là phòng của Hạ viện và Thượng viện. Cung điện cũng có phòng ủy ban, hành lang, phòng ăn, bar, phòng tập thể dục. Đây là nơi cử hành các đại lễ quốc gia, nổi bật nhất là lễ Khai mạc Quốc hội . Tòa nhà này gắn liền với lưỡng viện quốc hội, do đó, người ta dùng từ "Westminster" để chỉ Quốc hội.
Tu viện Westminster
Tu viện Westminster (Westminster Abbey), có tên chính thức Nhà thờ giáo đoàn Thánh Peter tại Westminster (The Collegiate Church of St Peter at Westminster), là một nhà thờ theo kiến trúc Gothic. Nhà thờ này nằm ở phía tây của Cung d9ie65n Ewstminster. Đây là nơi tiến hành lễ đăng quang của các vua và nữ hoàng Anh, đây cũng là nơi chôn cất của nhiều người trong Hoàng gia Anh  và nhiều nhân vật nổi tiếng khác trong lịch sử Anh . Cùng với Cung điện Westminster và nhà thờ St Margaret , Tu viện Westminster đã được UNESCO xếp hạng Di sản thế giới vào năm 1987.
Nhà thờ lớn St Margaret
Nhà thờ Anh giáo  St. Margaret, tu viện Westminster tọa lạc trên nền của tu viện Weatminster trên Parliament Square và nhà thờ giáo xứ của Hạ viện Vương quốc Anh ở London.  Tòa nhà thờ Margaret của Antioch. Nhà thờ này là di sản thế giới UNESCO.
Cung điện Blenheim
Tồn tại gần 300 năm, Blenheim là một trong những tòa nhà quan trọng của Hoàng gia Anh và là 1 trong 10 cung điện đẹp nhất nước Anh. Cung điện Bleheim trở thành di sản văn hóa thế giới từ năm 1987. Những người sở hữu nó đã cùng nhau tạo nên một nền văn hóa, di sản cho nước Anh với khẩu hiệu “Những ngôi nhà quý của nước Anh”.

---ooo0ooo---

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

ARETHA FRANKLIN

Những người nổi tiếng trong thế giới nghệ thuật và giải trí[ (10)
BKTT WIKIPEDIA
-o0o
10. Aretha Franklin
Aretha Louise Franklin (sinh 25 tháng 3 năm 1942 ) là một ca sĩ, nhạc sĩ và một nghệ sĩ piano người Mỹ , với danh hiệu "Nữ hoàng nhạc Soul". Dù nổi tiếng với những bản nhạc soul , Franklin cũng rất nổi tiếng với các thể loại khác như jazz, rock, blues, pop, R&B và nạc Phúc âm. Aretha Franklin bắt đầu sự nghiệp ca hát ở nhà thờ vào năm 10 tuổi và bắt đầu thu âm những bản nhạc vào bốn năm sau đó. Năm 18 tuổi, Aretha ký kết hợp đồng với hãng Columbia Records  và bà đã không có thành công như những điều mong đợi. Năm 1996, bà chuyển sang hãng đĩa Atlantic Records. Trong thời gian này, bà đã gặt hái những thành công thương mại lớn, trong đó gồm các hit tốp-mười Billboard Hot 100 , và bà đã có đĩa đơn quán quân đầu tiên trên bảng xếp hạng này, đó là “Respect” (1967).
Sau khi bà bị gãy chân năm 1969, Aretha tiếp tục thu âm một chuỗi hit lớn vào thập niên 1970 , với các albums Spitit in the Dark (1970), Young, Gifted & Black  (1971) và Amazing Grace  (1972). Trong đó, album Amazing Grace trở thành album nhạc Phúc âm bán chạy nhất thế giới. Sau khi thu âm album nhạc phim cho bộ phim Sparkle  năm 1976, Aretha lại rời hãng Atlantic và chuyển sang hãng đĩa Artista Records  năm 1980.
Năm 1984, Aretha dấn thân sang thể loại pop rock và nhạc dance  đương đại, tiêu biểu là trong album Who’s Zoom in Who ? năm 1985. Những năm sau đó, sự nghiệp của bà giảm xuống khi Aretha phát hành album cuối cùng vào năm 2011.
Năm 2008, tạp chí âm nhạc danh tiếng của Mỹ Rolling Stone bầu chọn Aretha ở vị trí số một danh sách 100 ca sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại. Aretha Franklin là một trong những ca sĩ giành được nhiều giải Grammy nhất, với 20 giải Grammy cho tới thời điểm này, trong đó có Giải Grammy Huyền thoại sống và Giải Grammy Thành tựu trọn đời. Bà đã có 20 ca khúc dành vị trí số một trong bảng xếp hạng Billboard R&B Singles, hai trong số đó dành vị trí số một trên Billboard Hot 100 là “Respect” (1967) và “I Knew You Were Waiting For Me” 1987), một ca khúc song ca với George Michael .
Từ năm 1961, bà đã có 45 ca khúc lọt vào top 40 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100 . Năm 1987, Aretha trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên được lưu danh vào Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll. . Bà cũng là một trong những ca sĩ biểu diễn trong lễ nhậm chức của tổng thống Barack Obama . Aretha Franklin là một trong những nghệ sĩ tiêu thụ đĩa nhạc lớn nhất, với 75 triệu albums được bán ra toàn thế giới.

---ooo0ooo---

TRANG PHỤC PHỤ NỮ NÙNG

Trang phục truyền thống phụ nữ dân tộc Nùng
-o0o-
(TQ-DTV)- Bộ y phục của người Nùng được cắt may từ vải đen nhuộm chàm, phần lớn chúng không có nhiều hoa văn và đường nét. Đặc biệt, nam nữ người Nùng đến tuổi trưởng thành đều bịt một chiếc răng bằng vàng ở hàm trên và như thế được xem là làm đẹp, là người sang trọng.
Phụ nữ Nùng mặc áo năm thân màu chàm, áo ngắn đủ che mông, áo được may rất rộng cả phần thân và tay, giúp cho cử động được thoải mái. Chiếc áo của phụ nữ Nùng được trang trí bằng cách thêm miếng vải khác màu vào cổ tay áo và phía trước ngực, thông thường là vải đen đắp lên áo chàm.
Ngày nay, họ mặc cả loại áo 5 thân và 4 thân. Áo ngắn 4 thân có cổ áo tròn, xẻ ngực, nẹp và gấu áo rộng, hai túi nhỏ ở vạt trước, cài 9 hàng cúc vải ở nẹp áo. Loại áo này phần lớn dùng mặc trong nhà, đi lao động hay mặc trong áo dài năm thân. Chỉ riêng nhóm Nùng Dín thì áo ngắn 4 thân lại là loại áo mặc chính, còn loại áo 5 thân may ngắn, chỉ vừa che kín bụng, dùng mặc trong nhà, khi đi ngủ, mặc lót trong loại áo 4 thân khi đi ra khỏi nhà.
Màu sắc trên trang phục dân tộc Nùng cũng khá đa đạng, từ màu xanh nhạt, đến xanh thẫm, tím than, xanh đen rồi phổ biến nhất là màu chàm.
Bên cạnh áo, váy cũng là một bộ phận quan trọng, tạo nên nét đặc sắc của trang phục truyền thống Nùng. Váy của người Nùng phân rõ thành cạp váy, giải buộc váy,  thân váy và gấu váy. Nhiều khi họ gọi cạp váy là đầu váy, còn gấu váy là chân váy. Thân váy được ghép lại từ 4 mảnh, gấu váy được đáp thêm vải khác màu, vừa cho gấu váy cứng vừa làm đẹp. Khi mặc, người ta gấp phần váy thừa ra phía trước hoặc phía hông. Khi đi chợ, đi thăm viếng, người ta để gấu váy phủ thấp chấm mắt cá chân, còn khi đi làm thì kéo gập váy lên cao cho tiện và sạch sẽ hơn.
Nghệ thuật may váy của người Nùng đáng chú ý nhất là của tộc người Nùng Dín. Họ có cắt may váy kiểu xoè xếp nếp, váy tạo thành bởi hai lớp vải, lớp ngoài dày và cứng hơn, còn lớp trong thì mỏng và mềm. Váy không khép kín hai mép vải dọc thân váy lại mà để hở khi mặc, mép nọ đè chồng lên mép kia, làm cho người mặc vẫn có cảm giác kín đáo.
Kết cấu của váy người Nùng Dín được tạo nên từ cạp váy, đầu váy, thân váy và gấu váy. Cạp váy nối với đầu váy, hai bên tạo thành hai dây vải dài dùng để thay cho thứ dây lưng hay giải rút, thắt cho váy giữ chặt vào eo lưng. Đầu váy thường là mảnh vải khác màu, trắng hay xanh, khâu liền một phía với thân váy, phía kia với cạp váy. Đầu váy có chiều dài khoảng gấp rưỡi vòng bụng, nhưng lại ngắn hơn rất nhiều chiều ngang của vải thân váy. Do vậy, khi khâu lại với nhau, thân váy phải xếp nếp sao cho đều, khi mặc, các nếp xếp gối nhau đều đặn chảy dài theo chân váy. Khi đi làm, để cho gọn ghẽ, dễ cử động, người ta túm một túm vải thân váy ở phía sau, buộc lại tạo thành cục gọi là phàn phái (túi vải), từ đó mới có tên gọi là Nùng U hay Nùng phàn phái.
Bên cạnh đó, dây lưng cũng là một bộ phận quan trọng để hoàn thiện bộ trang phục người Nùng. Loại phụ kiện này có sự khác nhau giữa các nhóm. Nhóm Nùng Dín có dây lưng dệt bằng sợi tơ tằm, trên mặt vải dệt những đường nét hoa văn hình thang song song, hình răng cưa, quả trám, lượn sóng, hình chim cách điệu… Khi mặc, quấn dây lưng quanh bụng, hai đàu dây dắt mối ở hai bên hông. Trong khi đó, dây lưng của phụ nữ Nùng Lòi bằng sợi bông dệt và nhuộm chàm, hai đàu dây thả mối phía sau dài chấm bắp chân. Dây lưng của nhóm Nùng An thì tuyền một màu xanh chàm, còn phụ nữ Nùng Xuồng thì thắt nhiều vòng thắt lưng ra ngoài áo dài, trên đó có dắt dây xà tích bằng đòng hay bạc, nổi rõ trên nền thắt lưng chàm.
Phụ nữ Nùng thường dùng hai loại khăn đội đầu là khăn thường gọi là bẩu qạ và khăn chỉ đội trong khi cưới xin, hội hè thì gọi là bẩu chịp. Ngoài ra, trang phục của phụ nữ Nùng còn phải kể tới tạp dề, xà cạp, đệm vai, giầy vải và một số đồ trang sức làm bằng kim loại đeo trên người. Người Nùng đeo vòng cổ, vòng tay, trâm cài tóc, dây chuyền, vòng tai… vừa để cho đẹp, vừa thể hiện quan niện tín ngưỡng các vị thần linh ở núi rừng Tây Bắc thiêng liêng.

---ooo0ooo--

10 CHIẾN ĐẤU CƠ KHỦNG NHẤT (1/2)

10 máy bay chiến đấu “khủng” nhất hành tinh (1/2)
-o0o-
Những loại máy bay “siêu khủng” đã được sản xuất để đáp ứng nhu cầu chiến đấu của không quân trong tác chiến hiện đại. Dưới đây là 10 loại máy bay chiến đấu khủng nhất của không quân các nước.
1. F-22 Raptor


F-22 Raptor là sản phẩm của tập đoàn chế tạo máy bay chiến đấu Lockheed Martin. Là máy bay tiêm kích thế hệ thứ năm, F-22 Raptor được trang bị công nghệ tàng hình thế hệ thứ tư. Khi được đưa vào sử dụng, F-22 Raptor đã giúp không quân Mỹ giành ưu thế trước đối thủ trực tiếp, không quân Nga.
Ngoài những khả năng thông thường của một máy bay chiến đấu, F-22 Raptor có thể đảm nhận nhiệm vụ tấn công mặt đất, chiến tranh điện tử và trinh sát. Được biên chế trong không lực hoa Kỳ vào tháng 12/2005 với tên chính thức F-22A, theo giá thành lô hàng đầu tiên, mỗi chiếc F-22A được mua với số tiền 339 triệu USD (bao gồm cả phí nghiên cứu). Sau đó, giá loại máy bay này giảm xuống còn 120 triệu USD và vẫn đang được quân đội Mỹ đặt mua.
2. Messerschmitt Me 262 Schwalbe (Chim Nhạn)
Messerschmitt Me 262 Schwalbe là máy bay phản lực chiến đấu đầu tiên trên thế giới. Được Đế quốc Đức sản xuất trong thế chiến thứ II, máy bay này đã tạo ra cho quân đội Đức một ưu thế vô cùng lớn trong chiến đấu. Chiếc máy bay đầu tiên được đưa vào biên chế quân đội Đức năm 1944.
Sở dĩ chiếc máy bay được đặt tên là Chim Nhạn bởi khả năng cất cánh, tấn công con mồi, tiêu diệt mục tiêu một cách chóng vánh của loài chim này. Tuy không thể giúp quân Đức lật ngược được thế cờ nhưng Messerschmitt Me 262 Schwalbe đã có những ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của máy bay chiến đấu sau này.
3. MiG-25

Mikoyan-Gurevich MiG-25 là tên đầy đủ của loại chiến đấu cơ biên chế trong Không quân Liên Xô một thời thống trị bầu trời. MiG-25 là loại máy bay chiến đấu đánh chặn, trinh sát và ném bom siêu thanh được Liên Xô nghiên cứu và chế tạo.
Được trang bị radar cực mạnh cùng với 4 tên lửa không đối không, sự xuất hiện của MiG-25 đã làm các quan chức quân sự phương Tây hốt hoảng. Mọi thông tin về chiếc máy bay này hoàn toàn nằm trong bí mật cho tới khi một phi công phản bội lái chiếc MiG-25 sang Nhật Bản.
Một vài mẫu máy bay chiến đấu MiG-25 hiện vẫn đang phục vụ trong quân đội Nga và nhiều nước khác trên thế giới.
4. British Aerospace Sea Harrie
Là máy bay phản lực của Không quân Hoàng gia Anh, Sea Harrie có khả năng tiêm kích, trinh sát và tấn công. Được đưa vào biên chế tháng 4/1980, Sea Harrier đóng vai trò hết sức quan trọng trong tác chiến của quân đội Anh.
Sea Harrier là loại chiến đấu cơ một chỗ, nó được trang bị tên lửa không đối không nhằm tăng khả năng tác chiến. Những chiếc Sea Harrie cũng đã kịp tham chiến trong Chiến tranh Falkland với Argentina năm 1982. Chúng cũng có khả năng cất cánh từ tàu sân bay và góp phần không nhỏ vào tổn thất của không quân đối phương.
5. Mitsubishi A6M Zero
Là máy bay tiêm kích đặc chủng trang bị trên tàu sân bay, Mitsubishi A6M Zero được Không quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng từ năm 1940. Vào thời điểm được sử dụng, Mitsubishi A6M Zero là máy bay chiến đấu trang bị cho tàu sân bay hiện đại nhất trên thế giới với động cơ khỏe và tầm bay xa. Khi mới xuất hiện, nó được tôn vinh là một huyền thoại và góp công lớn vào những chiến thắng của quân Nhật.

---ooo0ooo---

1. BÀO NGƯ

ĐỘNG VẬT THÂN MỀM ĂN ĐƯỢC (1)
1.    Bào ngư
BKTT Wikipedia
-o0o-
Bào ngư (ốc cửu khổng) là tên gọi chung cho các loài thân mềm chân bụng  trong chi Haliotis - chi duy nhất của họ Haliotidae, liên họ Haliotoidea.
Bào ngư có vỏ tầng thân phát triển lấn tầng xoắn ốc, khiến toàn thân bào ngư nom như một khối dẹt. 
Từ mép vỏ gần miệng có khoảng 7-9 gờ, xoắn tạo thành các lỗ (lý do tên gọi ốc cửu khổng) để thở với sự thoát nước từ mang.
Vỏ bào ngư phía ngoài có nhiều vân tím, nâu, xanh xen kẽ nhau, phụ thuộc vào từng loài thích nghi với môi trường sống riêng có; mặt trong có lớp xà cừ  óng ánh.

Vỏ rất cứng làm chủ yếu từ canxi cacbonat  gồm nhiều lớp xếp chồng lên nhau, có tác dụng phân tán lực khi bào ngư bị tấn công.
Chân bào ngư rộng, có cơ bám chắc vào đá đáy biển, giúp cho nó có thể sống được ở các vùng nước chảy mạnh.
Bào ngư bám vào đá ở vùng nước biển có độ mặn cao 25-30%, hay có sóng gió, xa cửa sông, nước trong.
Thức ăn của bào ngư gồm các loài rong tảo biên, mùn bã hữu cơ.
Bào ngư sinh sản hữu tính, thụ tinh ngoài, đẻ trứng vào mùa nóng, nghỉ hoạt động sinh dục mùa lạnh.

---ooo0ooo---

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

DI SẢN TG TẠI CHÂU ÂU (3)

DI SẢN THẾ GIỚI TẠI CHÂU ÂU (3)
BKTT WIKIPEDIA
-o0o-

Công viên hoàng gia Studley và Tu viện Fountains, Bắc Yorkshire, Anh

Tu viện Fountains ở vùng Bắc Yorkshire là một ví dụ tuyệt vời nhất về tính hài hoà của nghệ thuật kiến trúc Gothic ở Anh và ý nghĩa văn hoá của những ngôi nhà di tích nơi đây. Tu viện Fountains được xây dựng năm 1132 và trở thành một tu viện dòng Cistercia giàu có nhất nước Anh. Mặc dù chỉ còn là một phế tích, nhưng tu viện này vẫn là tu viện kiểu Anh được bảo quản tốt nhất.
Giant’s Causeway
Giant's Causeway là vùng bờ biển thuộc hạt Altrim, Bắc Ireland, Vương quóc Anh . Bờ biển này thu hút rất đông khách du lịch và các nhà nghiên cứu đến đây bởi những cột bazan khổng lồ màu đen được xếp ngay ngắn (ước tính có khoảng 40.000 cột bazan). Vào thế kỷ 18 đã có rất nhiều tranh cãi xung quanh việc hình thành các cột bazan này nhưng qua các nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã cho rằng chúng đã được hình thành cách đây khoảng 50 đến 60 triệu năm trước bởi các hoạt động phun trào của núi lửa suốt thời kỳ Tertiary.
Altrim là cao nguyên nham thạch hình thành trong thời kỳ Tertiary, thời kỳ núi lửa hoạt động mạnh. Với diện tích khoảng 3.800 km2, bờ biển có nhiều vịnh và các mũi đất với nền móng dung nham, Altrim là cao nguyên nham thạch lớn nhất còn lại ở châu Âu.
Ở các vách đá, chiều cao trung bình của các cột bazan ở Causeway lên đến 100m (từ 30m đến 150m), đường kính khoảng 45 cm và mặt cắt của các cột bazan là các đa giác.
Khu vực bảo tồn còn bao gồm vùng biển gần đó với hệ động thực vật biển, các vách đá, bờ biển, thực vật vùng đầm lầy.. Giant's Causeway được thế giới biết đến và được ví như là một kỳ quan với các cột ống khói, là ví dụ điển hình nhất về quá trình hình thành địa chất và nguồn gốc bazan. UNESCO  đã đưa Giant's Causeway và vùng bờ biển Causeway vào danh sách di sản thiên nhiên thế giới vào năm 1986.
Hẻm núi Ironbridge
Hẻm núi Ironbridge là một hẻm núi sâu ở sông Severn ở Shropshire, Anh. Ban đầu có tên là Hẻm núi Severn, hẻm núi hiện nay được lấy tên theo cây cầu sắt nổi tiếng ở đó, chiếc cầu sắt đầu tiên trên thế giới, và một thành tựu của ngành công nghiệp bắt đầu từ đó. Chiếc cầu được xây vào năm 1779 đẻ nối thị trấn công nghiệp Broseley với thị trấn chuyên khai thác mỏ đá Madeley và trung tâm công nghiệp Coalbrookdale. \
Có hai lý do khiến cho địa điểm này rất có ích với ngành công nghiệp thời gian đầu. Các nguyên liệu, sắt, đá vôi, than, dùng cho ngành sản xuất sắt, đá lát và đồ sứ được phát hiện và khai thác dễ dàng ở hẻm núi. Con sông rộng và sâu cho phép vận chuyển dễ dàng các hàng hoá ra biển.

Nhà thờ và lâu đài Durham, Đông Bắc nước Anh

Nhà thờ Durham và lâu đài Durham nằm ở thành phố Durham ở miền Đông Bắc nước Anh. Hai công trình này nổi lên trên một quả đồi cao giữa thành phố nhỏ bé được bao quanh bởi dòng sông Wcar uốn lượn, và những cây cầu rất cổ...
Nhà thờ Durham là kiệt tác kiến trúc kiểu Anglo - Norman (kiểu Anh có ảnh hưởng phong cách vùng Normandie). Nhà thờ được xây dựng vào những năm 1090-1145, hai tòa tháp thấp phía Tây được hoàn tất năm 1220 mang tính chất đặc trưng rõ nét của kiến trúc Roman, trong khi tòa tháp cao ở giữa cánh ngang mang phong cách Gothic muộn lại được hoàn tất vào thời kỳ 1465-1490.
Việc chọn lựa địa điểm ở đây có thể nói là đắc địa, từ phía Tây (phía bờ sông Wear nhìn sang nhà thờ), ba tòa tháp nói trên trông rất có sức mạnh. Đây cũng chính là một bức tường thành kiêu hùng và vững chắc của người Normandie đã dựng lên chống lại được người Scotland trong nhiều thế kỷ.
Công trình trông rất đồ sộ, có 2 tháp cao ở mặt đứng phía trước, thân nhà thờ có 3 nhịp có cánh ngang rất lớn và ở chỗ giao nhau với thân nhà thờ vươn lên một tháp đèn rất cao. Phần điện thờ được kéo dài nối tiếp với thân nhà thờ và dẫn đến một cánh nhà ngang thứ hai. Bốn góc của cánh nhà ngang này có 4 tháp mang hình thức nhấn mạnh tính chất hình học.
Durham có ý nghĩa rất quan trọng trong lịch sử dòng kiến trúc Roman, là công trình kích thước lớn đầu tiên đánh dấu bước chuyển sang sử dụng hệ thống vòm kiểu Gothic, giá trị của công trình còn thể hiện ở sự liên kết khéo léo các khối nhà, với sự hiện diện của các trần vòm nhiều múi.
Nhà thờ Durham (nằm trong tu viện của dòng tu Benedictine) đã để cho người đời sau thấy được như là một tác phẩm kiến trúc đi trước thời đại.
Theo kết quả bình chọn của người dân nước Anh do đài BBC cung cấp vào năm 2001, nhà thờ Durham được bình chọn là tòa nhà được yêu thích nhất.
Lâu đài Durham nằm trên đỉnh đồi nay trở thành nơi ở của các sinh viên Đại học Durham.
St Kilda, Scotland
Các đảo thuộc Quần đảo St.Kilda là các đảo núi lửa đã ngưng hoạt động từ lâu nằm ở vùng đảo xa xôi nhất thuộc quần đảo Anh. Nó nằm cách Bắc Uist, quần đảo Outer Hebrides  khoảng 64 km (40 dặm) về phía tây-tây bắc, bao gồm các đảo phía tây của quần đảo Outer Hebrides, Scotland. Đảo Hirta  là hòn đảo lớn nhất với những vách đá cao nhất tại Vương quốc Anh, cùng ba hòn đảo khác là Dun, Soay và Boreray  từng là nơi chăn thả gia súc và săn bắn chim biển. Về mặt hành chính, các hòn đảo là một phần của chính quyền địa phương Combairie nan Eilean Siar.

---ooo0ooo---

9. NHÀ THƠ ELIOT

Những người nổi tiếng trong thế giới nghệ thuật và giải trí (9)
BKTT WIKIPEDIA
-o0o
9. Nhà thơ Anh Thomas Steams Eliot
Để kỷ niệm Ngày thơ Quốc gia 8/10, người Anh đã tổ chức một cuộc thăm dò dư luận bình chọn thi sĩ vĩ đại nhất trong lịch sử. Theo kết quả thu được trên cuộc bình chọn online của hãng BBC, trong con mắt ngườI Anh hiện nay, nhà thơ vĩ đại nhất của mọi thời là Thomas Steams Eliot (1888-1965), giải Nobel văn chương năm 1948.
Nhà thơ Anh – Mỹ này đã vượt xa nhà thơ siêu hình thời Trung Cổ John Donne (1572-1631) và thi sĩ Benjamin Zephaniah (sinh năm 1958, thành viên giáo phái Jamaica tôn sùng Ras Tafari như Chúa). Có một điều lạ là, những thi nhân vĩ đại được cả thế giới biết tới như William Shakespeare, George Byron và Robert thậm chí còn không có mặt trong top-ten của cuộc bình chọn này.
Thomas Steams (T.S) Eliot được biết tới ở Anh như một trong những thi sĩ theo chủ nghĩa hiện đại nổi bật nhất hồi đầu thế kỷ XX. Hoá ra là bao nhiêu năm trôi qua, tính hiện đại của ông vẫn còn là đương đại đối với độc giả ở đầu thế kỷ XXI.
T.S Eliot sinh ngày 26/9/1888 tại Saint Louis, Missouri (Mỹ), mất ngày 4/1/1965 ở London (Anh). T.S. Eliot sinh ra trong một gia đình cự phú và được giáo dục theo tinh thần Thanh giáo rất khắt khe. Năm 1906, ông vào Đại học Harvard học về triết học, tâm lý học và cả môn Đông phương học. Từ đó, ông sang Paris tiếp tục trau dồi học vấn và chuẩn bị cả một luận án tiến sĩ nhưng về sau đã không bảo vệ luận án này mà đi sâu vào sáng tác văn học.
Năm 1914, T.S. Eliot chuyển sang sống và làm việc ở Anh, làm nhiều nghề khác nhau, như nhân viên ở ngân hàng Lloyd, giáo viên, rồi làm giáo sư văn học và thậm chí làm cả giám đốc nhà xuất bản Faber & Gwyer (sau đổi thành Faber & Faber).
 T.S. Eliot bắt đầu sự nghiệp văn học với sự hỗ trợ đáng kể của nhà thơ, dịch giả kiêm phê bình gia người Mỹ  Erza Pound. Giữa T.S. Eliot với Pound có rất nhiều điểm tương đồng nên ông rất hay đăng thơ trong các tuyển tập của những người theo trường phái Hình tượng (Imagism). Trong cách nhìn của T.S. Eliot, thơ cổ điển và thơ lãng mạn chỉ là dòng thơ  ”dissociation of sensibility”, tức là tình cảm và lý trí trái ngược nhau. Tập thơ đầu tiên của ông là “Prufrock và những quan sát khác” (Prufrock and Other Observations, 1917) mang nặng ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng.
Những bài thơ có giá trị nhất trong giai đoạn đầu sáng tác của T.S. Eliot được đưa vào tập “Tình ca của Alfred Prufrock”, xuất bản năm 1917 và được người đương thời đánh giá như một bản tuyên ngôn Anh – Mỹ của chủ nghĩa hiện đại. Cũng trong năm 1917, T.S. Eliot làm trợ lý tổng biên tập cho tạp chí thuộc phái hình tượng “Người vị kỉ” (The Egoist).
Năm 1922, T.S. Eliot đã công bố tác phẩm quan trọng nhất của mình “Mảnh đất cằn khô” (The Waste Land) mà trong đó, ông đã nắm bắt trước được tâm trạng của “thế hệ bị đánh mất” ở nước Anh sau chiến tranh. Hình thức ngắt đoạn của trường ca này, lần đầu xuất hiện trên tạp chí “The Criterion” do Eliot sáng lập, càng làm tăng thêm ấn tượng về sự mất định hướng của con người….
Trong trường ca này cũng chứa đựng nhiều liên tưởng tới Kinh Thánh và tập “Thần khúc” của Dante. T.S. Eliot bắt đầu đăng thơ từ năm 1916 trong tạp chí văn học Mỹ The Little Review do Jane Heap và Margaret Anderson lập ra.
Ngoài thi ca, T.S. Eliot còn là một nhà soạn kịch tài năng và một nhà phê bình văn học sắc sảo. Ông đã giúp người đồng thời với ông tìm lại những giá trị thi ca của nhà thơ John Donne lúc đó đã gần như bị quên lãng cũng như của các nhà thơ cách tân mà trong đó ông đặc biệt đánh giá cao Andrew Marvell (1621-1678) và John  Webster (1578-1634).
T.S. Eliot viết phê bình văn học từ quan điểm thuần tuý mỹ học và gạt xuống hàng thứ yếu những khía cạnh thuộc về tiểu sử của tác giả. Năm 1928, ông viết tiểu luận “For Lancelot Andrewes đánh dấu một bước ngoặt mang tính tôn giáo. Cùng với tập thơ xuất bản năm 1930 là “Ngày đầy của tuần chay” (Ash Wednesday), tư tưởng tôn giáo bắt đầu hiện diện thường xuyên trong tất cả tác phẩm của ông.
Vở kịch “Vụ giết người trong nhà thờ” (Murder in the Cathedral, 1935) đánh dấu bước khởi đầu công việc thực sự của ông trong lĩnh vực sân khấu.
H6
Những năm 1949-1959, ông cho ra đời một loạt vở kịch. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, kịch của T.S. Eliot thường trau chuốt về ngôn từ, nhưng thiếu tính kịch nên khó diễn…
Năm 1927, T.S. Eliot đã gia nhập Anh giáo và nhận quốc tịch Anh. Những suy tư của ông đã được thể hiện qua trường ca “Môi trường tro” (1930) với phong cách cổ điển hơn những tác phẩm ông viết thời trẻ.
Sau khi William Butler Yeats qua đời (1/1939) và đặc biệt là sau khi công bố trường ca “Bốn khúc tứ tấu” (Four Quartets, 1945), T.S. Eliot lại càng trở nên danh giá như một nhà thơ Anh ngữ hàng đầu còn sống. Đôi khi ông, cũng như người bạn Erza Pound của mình bị người đời buộc cho cái tội bài Do Thái, nhưng khác với bạn mình, ông luôn luôn lớn tiếng bác bỏ điều này.
Những lá thư của ông, được công bố năm 2003, cho thấy, thực ra ông đã giúp rất nhiều cho những người tị nạn Do Thái chạy khỏi Áo và Đức sang cư trú chính trị ở Anh và Mỹ. Ông cũng ủng hộ việc thành lập quốc gia Israel. Ở thời điểm hiện nay, quan điểm công dân của ông không còn bị hoài nghi nữa.
Năm 1948, T.S. Eliot đã được trao giải thưởng Nobel văn chương nhờ “sự cách tân  tiên phong trong xây dựng nền thi ca hiện đại”, như trong lời tôn vinh của Ủy ban Nobel. Ông thực sự là người tác động đến sự phát triển của văn học và văn hóa phương Tây thế kỷ XX. Tập thơ “Khoa học thường thức về những chú mèo do ông già Possum viết nên” (Old Possum’s Book of Practical Cats) đã được nhà soạn nhạc lừng danh Andrew Lloyd Webber viết thành vở nhạc kịch rất ăn khách “Những chú mèo”.
Thơ ông, như đã được ghi nhận trên Wikipedia, “thường đi vào những chủ đề triết lý, phản ánh mâu thuẫn giữa thực tại và thế giới tinh thần, sự yên bình của tâm hồn và lo âu trong đời sống con người, sự chuộc tội của linh hồn qua thời gian…”. Ông cũng là người có đầu óc cách tân trong ngôn ngữ thơ và thi pháp, đấu tranh cho “thơ tự do”, thoát khỏi khuôn sáo của thơ đương thời.

---ooo0ooo---