Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA

BƯỚC VÀO CÕI PHẬT – QUYỂN 2 – BÀI 8
Cố Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú
-o0o-
8. TỔ BỒ-ĐỀ-ĐẠT-MA
Trong lịch sử Phật giáo đại thừa Trung quốc, Việt Nam và Nhật bản ...  ngài Bồ-Đề-Đạt-Ma giữ một vị trí đặc biệt.  Thật vậy, ngài là tổ khai sáng Thiền tông tại Trung quốc vào thế kỷ thứ sáu, cho đến ngày nay, tông phái ấy vẫn còn giữ một địa vị hàng đầu, nhất là tại Nhật bản; người ta nói rằng văn hóa Nhật bản chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của pháp môn Zen.
Người ta hay gọi ngài là Đạt-Ma đại sư hay Đạt-Ma tổ sư. Hôm nay, nói về ngài, chúng tôi xin thưa trước rằng những tài liệu đưa ra đây đều được nhặt nhạnh trong các sách và có nhiều chi tiết mang tính cách hoang đường.  Ngay như năm sinh, năm mất của ngài cũng không chắc chắn, The Shambala Dictionary of Buddhism and Zen ghi năm sinh là khoảng 470, năm mất là 543 với một chấm hỏi.
Ngài Ca-Diếp điều khiển Giáo Hội sau khi đức Thích-Ca nhập diệt, ngài là tổ thứ nhất của Phật giáo. Y và bát truyền dần xuống đến tổ thứ 27 là ngài Bát-nhã-đa-la, vào khoảng một ngàn năm sau khi Phật nhập Niết-bàn.  Khi ngài Bát-nhã-đa-la đi hoằng hóa về phía Nam nước Ấn-Độ, ngài được vị vua của một tiểu vương quốc tại đó tên là Hương Chí thỉnh về cung cúng dàng.  Nhà vua có ba hoàng tử tên là Nguyệt-tịnh-đa-la, Công-đức-đa-la, Bồ-đề-đa-la, đều sùng kính Phật pháp.
Tổ hỏi nhiều câu để thử xem ba hoàng tử căn cơ ra sao.  Người thứ ba với tài đối đáp bộc lộ sự tinh thông Phật pháp làm cho ngài vui lòng mà nhận ta rằng ngài đã tìm ra người để truyền tâm ấn.
-  Trong các vật, vật gì là không tướng? 
-  Chẳng khởi là không tướng..
-  Trong các vật, vật gì là tối cao?   
-  Nhơn ngã là tối cao.

Tổ Bát Nhã Đa La
 [Riêng tôi, tôi thấy chỗ này khó hiểu, vì nhơn ngã tức là cái bản ngã của con người, mà đạo Phật không chấp nhận nhơn ngã và pháp ngã, và bảo rằng ngã, pháp đều không; hay là ở đây muốn chỉ cái Ngã thật sự của con người tức Phật tánh? Xin nêu vấn đề].
-  Trong các vật, vật nào là tối đại?  
-  Pháp tánh là tối đại (the nature of dharmas  is  the biggest).
Khi vua Hương Chí băng, hai anh lớn khóc lóc, riêng người con út Bồ-đề-đa-la ngồi nhập định bên linh cữu suốt bảy ngày và sau tang lễ, xin phép hai anh và được hai anh cho phép xuất gia, sau được tổ  Bát-nhã-đa-la truyền y bát làm tổ thứ 28.  Tổ dặn rằng chỉ tạm ở Ấn-Độ thôi, sau sẽ phải sang hoằng pháp tại Trung Hoa, nhưng phải đợi 60 năm sau khi ngài tịch diệt (vì chi tiết này mà có người nói rằng tổ thứ 28 sống trên 100 tuổi) vì đi ngay thì có nhiều điều không hay.
Anh cả của ngài lên nối ngôi vua cha, khi nghe ngài kể lại lời dặn dò của tổ thứ 27, thì cung cấp thuyền bè và thủy thủ để ngài sang Trung Quốc.  Lênh đênh trên mặt biển ba năm trời, cuối cùng ngài đến Quảng Châu, năm 520, thời vua Võ Đế nhà Lương (nhà Lương: 502 – 557; sử Tàu còn có Hậu Lương: 907 – 923).  Có nơi nói rằng lúc đó ngài 60 tuổi, điều này rõ ràng trái với chuyện vừa kể trên đây.  Được địa phương báo cáo, Lương Võ Đế thỉnh ngài về kinh đô Kim Lăng. 
Khi viết tiểu sử của ngài, người ta gọi ngài là Bồ-Đề-Đạt-Ma (đa-la đổi thành đạt-ma lúc ngài xuất gia. Bodhi dịch là giác hay là đạo, dharma dịch là pháp, nên có chỗ gọi ngài là Đạo Giác).  Sách thường nhắc đến câu chuyện trao đổi giữa ngài và Võ Đế:
-  Trẫm thường cất chùa, độ tăng ni, in kinh sách không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì không?    
-  Đều không có công đức.   
-  Tại sao?   
-  Vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo ở cõi trời và cõi người, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật.  
-  Thế nào là công đức chân thật?   
-  Trí thanh tịnh tròn đầy, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu.   
-  Thế nào là thánh nghĩa đế thứ nhất?
-  Rỗng rang, không thánh.    
-  Đối diện với trẫm là ai?   
-  Không biết!
Nhận thấy căn cơ chưa hợp, ngài vượt sông Dương tử, ngược lên phía Bắc, đến nước Ngụy, tới trụ trì tại chùa Thiếu Lâm trên núi Trung Sơn, ngồi im lặng nhìn vào vách, vì thế mà người ta gọi ngài là Bích quán bà-la-môn (thày bà-la-môn nhìn vách). 
Truyền thuyết nói ngài ngồi như thế nhiều năm liền! 
Một vị tăng giỏi tên là Thần Quang đến cầu pháp nơi ngài mà ngài vẫn chưa quay ra.  Vị sư này kiên nhẫn chờ, tuyết rơi ngập đến đầu gối mà không lùi, lại còn chặt cánh tay trái để chứng tỏ lòng thiết tha cầu đạo của mình.  Tổ khen. Sư thưa: 
- Tâm con chưa an, xin thày dạy pháp an tâm.  
- Đem tâm ra đây ta an cho.  
- Con tìm tâm không thể được.  
-  Ta đã an tâm cho ngươi rồi.   
Tới đó sư Thần Quang ngộ, theo học Tổ nhiều năm,  Tổ đổi  tên của sư thành Huệ Khả; sau này tổ truyền y bát cho ngài Huệ Khả làm tổ thứ nhì của Thiền tông.
Theo một truyền thuyết kể trong sách Cảnh đức truyền đăng lục thì sau chín năm trụ ở Thiếu Lâm Tự, ngài Đạt-Ma nhớ quê và quyết định hồi hương.  Ngài thử nghiệm sự thực chứng của các môn đồ và bảo nói ra chỗ sở đắc của mình.
Sư Đạo Phó thưa: Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, đấy là dụng của đạo.    
Tổ bảo: Ngươi được phần da của ta.
Ni Tổng Trì thưa: Nay chỗ hiểu của con, như tổ A-nan thấy nước Phật A-Súc, chỉ thấy một lần, không còn thấy lại.    
Tổ bảo: Ngươi được phần thịt của ta.
Sư Đạo Dục thưa: Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con không một pháp có thể được.    
Tổ bảo: Ngươi nắm được phần xương của ta.
Đến Huệ Khả bước ra đảnh lễ, rồi lui lại đứng im lặng.
Tổ bảo: Ngươi được phần tủy của ta.
Và ngài truyền y bát cho Huệ Khả, tặng cho bộ kinh Lăng-Già, ngài cho rằng đó là kinh mà Phật nói “tột pháp yếu”, giúp cho chúng sinh mở, bày, ngộ, nhập kho tri kiến Phật (khai thị ngộ nhập Phật tri kiến).
Khi ngài cùng đồ chúng đến chùa Thiên Thánh ở Võ Môn được ba hôm thì ngài an nhiên thị tịch (năm 529, theo các tài liệu chữ Hán).  Nhục thân được đưa vào tháp tại chùa Định Lâm, trên núi Hùng Nhĩ.
Sứ của vua Ngụy tên là Tống Vân đi Tây trúc thỉnh kinh về, gặp ngài, thấy ngài tay cầm một chiếc dép, bèn hỏi ngài đi đâu. Ngài đáp: “Về Ấn-Độ. Thày của ngươi chán đời rồi”.
Tống Vân về triều thì vua đã băng, có vua mới.  Đem chuyện trình lên, vua cho mở quan tài thì không thấy người đâu, chỉ còn một chiếc dép.  Vua cho đem chiếc dép đó về thờ ở chùa Thiếu Lâm, sau thờ ở chùa Hoa Nghiêm.
Có một thuyết nói rằng ngài bị thuốc độc mà tịch vào lúc ngài 150 tuổi.
Tại nhiều chùa, có thờ tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma.  Hình thờ vẽ một nhà sư da ngăm, râu rậm, mắt to, dáng đi nhanh, vai vác một cành cây nhỏ, đầu cành treo một chiếc dép.  Đó là nhắc lại chuyện trên đây. Người ta cho rằng “một chiếc dép chứ không phải hai” là để nói đến pháp môn bất nhị của đạo Phật.
Tượng thờ Đạt Ma Tổ Sư

---ooo0ooo---

CHIM HÓT (5-6)

CHIM HÓT (5-6)
Sưu tầm
-o0o-
Chích chòe than hót múa hay
Chim Sơn Ca hót múa
---ooo0ooo---



TRANG PHỤC PHỤ NỮ TÀY

--

Trang phục phụ nữ dân tộc Tày

 (TQ-DTV)- Nhìn chung nười Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm nên trang phục của họ màu chủ đạo là màu chàm, phụ nữ thường chít khăn mỏ quạ, mặc áo năm thân có thắt lưng, đeo vòng cổ, tay, chân bằng bạc.
Trang phục cổ truyền của người Tày được làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm đồng nhất trên trang phục nam và nữ, hầu như không có hoa văn trang trí. Không ai rõ nghề dệt thổ cẩm của người dân tộc Tày có từ bao giờ, mà chỉ biết những tấm vải thổ cẩm do chính họ dệt ra từ lâu đã nổi tiếng với những hoa văn đẹp mắt, sặc sỡ, mang đậm sắc thái dân tộc.
Nguyên liệu chính để dệt thổ cẩm là sợi bông nhuộm chàm và tơ tằm nhuộm màu. Tuy nhiên, do giá tơ tằm đắt nên ngày nay người dệt thổ cẩm dùng len có chi phí thấp hơn để thay thế. Quy trình dệt thổ cẩm hoàn toàn thủ công và chính đôi tay khéo léo và sự nhẫn nại của người phụ nữ Tày mà những tấm thổ cẩm nên hình nên dạng vô cùng đặc sắc. Từ những tấm thổ cẩm tự tạo ấy người phụ nữ Tày may thành mặt chăn, mặt địu, khăn trải giường và nhất là những bộ trang phục đặc sắc của dân tộc.
Trang phục nam giới người Tày có quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa, áo ngắn cũng may năm thân, cổ đứng. Nam cũng có áo dài như cái áo ngắn kéo dài vạt xuống quá đầu gối. Ngoài ra, họ còn có thêm áo 4 thân, đây là loại áo xẻ ngực, cổ tròn cao, không cầu vai, xẻ tà, cài cúc vải và có hai túi nhỏ ở phía trước.
Vào những ngày hội hè người ta mặc áo cánh trắng ở trong có lẽ vì vậy mà người Tày còn được gọi là người áo trắng (cần slửa khao) để phân biệt với người Nùng thường chỉ mặc áo chàm. Ngoài ra, đàn ông Tày còn mặc thêm loại áo dài 5 thân xẻ nách phải, đơm cúc vải hay cúc đồng. Quần (khóa) cũng làm bằng vải sợi bông nhuộm chàm như áo, cắt theo kiễu quần đũng chéo, độ choãng vừa phải dài tới mắt cá chân. Quần có cạp rộng không luồn rút, khi mặc có dây buộc ngoài. Khăn đội đầu màu chàm (30cm x 200cm) Quấn trên đầu theo lối chữ nhân.
Về trang phục nữ giới, đó là mặc áo cánh, áo dài năm thân, quần váy, thắt lưng, khăn đội đầu, hài vải. Phụ nữ Tày còn thắt lưng bằng những tấm vải chàm hay đũi dài khoảng hai sải tay làm tăng thêm vẻ duyên dáng nhất là với thanh nữ. Trong những ngày lễ tết, họ mặc thêm chiếc áo trắng ở bên trong.
Trước đây phụ nữ mặc váy, nhưng gần đây phổ biến mặc quần; đó là loại quần về nguyên tắc cắt may giống nam giới kích thước có phần hẹp hơn. Khăn phụ nữ Tày cũng là loại khăn vuông màu chàm khi đội gập chéo giống kiểu mỏ quạ của người Kinh.
Nón của phụ nữ Tày khá độc đáo. Nón bằng nan tre lợp lá có mái nón bàng và rộng. Trang sức phụ nữ Tày đơn giản song có đủ các chủng loại cơ bản như vòng cổ, vòng tay, vòng chân, xà tích... Có nơi còn đeo túi vải.  
Nói tới trang phục của người Tày, ta không thể không nói tới hoa văn trên trang phục của họ. Cái độc đáo nhất là lối dùng màu chàm phổ biến, đồng nhất trên trang phục nam và nữ cũng như lối mặc áo lót trắng bên trong áo ngoài màu chàm. Cái lưu ý không phải là lối tạo dáng mà là phong cách mỹ thuật như đã nói trên. Nhiều tộc người cũng dùng màu chàm nhưng còn gia công trang trí các màu khác trên trang phục, ở người Tày hầu như các màu ngũ sắc được dùng trong hoa văn mặt chăn hay các tấm thổ cẩm. Riêng nhóm Pa dí (Lào Cai) có phong cách tạo dáng và trang trí khá độc đáo ở lối đội khăn và y phục. 
Họa tiết được kỷ hà hóa là chính để thích hợp với việc dệt trên khung dệt. Bố cục họa tiết theo phương pháp ô quả trám có các đường viền xung quanh tạo thành các đường diềm gãy khác. Trong các ô quả trám là họa tiết cách điệu hóa hình họa, hình ngọn rau bầu, bí, là loại cây có liên quan nhiều đến nền văn hóa cổ, tín ngưỡng cổ của nhiều cư dân nông nghiệp ở phía Bắc nước ta, trong đó có người Tày. Trên cơ sở của loại bố cục hoa văn một mầu đen trên nền trắng như thế này, người Tày lại phát triển trang trí theo một hướng khác, gài mầu vào từng đoạn họa tiết, từng mảng họa tiết tùy trình độ thẩm mỹ, ý thích của người dệt trên khung dệt thủ công, có tên gọi là thổ cẩm, mang ý nghĩa là một loại gấm của địa phương.
Trên mặt chăn hoặc màn che mà vị trí là ở các nơi thờ cúng tổ tiên, người ta thể hiện các đề tài liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo, như thêm đường diềm ở phía trên - tương ứng với cõi Trời, có hình các vị thần linh, bảo hộ cho sự sống bình an của con người hoặc thêm đường diềm ở phía dưới - tương ứng với cõi Đất, có hình con ngựa, con chim là những hình tượng biểu trưng cho cuộc sống, cỏ cây, muông thú trên mặt đất như quan niệm về vũ trụ của dân gian. Bố cục hình vuông của thổ cẩm, bố cục hình chữ nhật của loại thổ cẩm làm mặt chăn hoặc màn che có quy định phía trên phía dưới - là những bố cục riêng có trong trang trí dệt của người Tày, mà các dân tộc anh em không có.
Ngày nay, trang phục truyền thống Tày vẫn phổ biến nhất là trong các ngày lễ cổ truyền, nhưng áo cánh, áo sơ mi vẫn được nhiều thanh niên mặc, còn trong ngày thường, họ mặc trang phục gần như người Kinh.

---ooo0ooo---

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

130 ĐIỀU CHƯA BIẾT (11)

130 điều có thể bạn chưa biết (11)
Sưu tầm
-o0o-
101. Sau khi ăn nhiều quá thì thính giác của mình sẽ bớt nhạy đi.
102. Jack là tên thông dụng nhất trong những câu chuyện cổ tích.

103. 1 con cào cào có thể nhảy cao hơn 20 lần so với chiều dài của nó.

104. Chính quyền Mỹ không cho in hình người còn sống lên tem.

105. 1 con người trung bình cười khỏang 13 lần mỗi ngày.

106. Trái đất nặng khoảng 6,588,000,000,000,000,000,000,000 tấn.

107. Mỗi lần liếm 1 con tem, bạn tiêu hao khoàng 1/10 calorie.

108. Châu Úc là châu lục duy nhất mà không có núi lửa hoạt động.

109. Cao su sẽ bền hơn nếu được cho vào tủ lạnh.
110. 40,000 người Mỹ bị thương trong toilet hằng năm…
---ooo0ooo---








Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa

Cuộc đời truyền kỳ của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa

-o0o-
Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa XII, được tôn sùng là hiện thân của Đức Phật Quan Âm, đã chứng tỏ năng lực tâm linh siêu việt từ nhỏ và khởi xướng nhiều công trình nhân đạo được quốc tế công nhận.
phap-vuong-2-1381-1396064624.jpg
Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa sinh năm 1963 trong một gia đình hành giả Kim cương thừa có dòng dõi tôn quý. Phụ thân Ngài, Đức Kyabje Bairo Rinpoche là một trong những bậc nắm giữ truyền thừa Katok và cũng là hóa thân đời thứ 36 của Đại Thượng sư và Đại dịch giả trứ danh nhất truyền thống Kim cương thừa là Đức Vairotsana. Thân mẫu Ngài là bà Mayum-la Konchok Pema thuộc dòng dõi Thượng sư Nyadak Nyang vĩ đại.
Ngài đản sinh tại thánh địa hồ Liên Hoa, miền bắc Ấn Độ, khi cha mẹ Ngài đang trên đường hành hương. Theo tự truyện của Đức Pháp Vương, hôm đó đúng dịp các đạo sư tập hợp nơi hồ Liên Hoa, tổ chức đại pháp hội Tse Chu. Ảnh: Drukpa.org
phap-vuong-3-1363-1396064624.jpg
Từ nhỏ, ngài đã chứng tỏ năng lực tâm linh siêu việt, trước khi biết đọc, biết viết, đã phân biệt được các bản kinh sách. Năm 1966, các bậc thị giả và tùy tùng của đời trước đến Dalhousie, miền bắc Ấn Độ để tìm hóa thân mới của Pháp Vương Gyalwang Drukpa. Hai ngày trước khi gặp đoàn thị giả, Ngài đã nói với cha mình rằng: "Có một người đàn ông với bộ râu trắng sẽ đến tìm con".
Ngài được ban pháp danh là Jigme Pema Wangchen, có nghĩa là Đấng Vô Úy Liên Hoa Quyền Lực Tự Tại. Ảnh: Drukpa.org
phap-vuong-6-9847-1396064624.jpg
Đầu năm 1967, nghi lễ đăng quang Pháp Vương dòng truyền thừa của Ngài đã diễn ra tại tự viện Darjeeling ở tây Bengal. Sau đó, Ngài được học đọc, học viết, học tất cả kinh văn, nghi thức hành lễ và các nghi quỹ. Dần dần, Ngài thụ nhận toàn bộ quán đỉnh của dòng truyền thừa Drukpa, các bài pháp giảng nghĩa lý giải thoát, kinh điển truyền thừa.
Dù đứng đầu Truyền thừa Drukpa, Đức Pháp Vương vẫn rất tôn kính trước đạo sư thuộc các dòng phái khác và nghiên cứu nhiều giáo pháp thuộc tân phái, cổ phái. Trong ảnh là Đức Pháp Vương thời trẻ (trái) và các đạo sư thuộc dòng phái khác. Ảnh: drukpa.org
phap-vuong-10-live-to-love-2399-13960646
Hơn 30 năm truyền giảng Phật pháp toàn thế giới, Đức Pháp Vương đã khởi xướng nhiều dự án nhân đạo, đúng với tôn chỉ phụng sự nhân loại và vũ trụ của Truyền thừa Drukpa. Một trong những dự án tiêu biểu nhất là Tổ chức từ thiện quốc tế Live to Love (Sống để Yêu thương) nhằm thúc đẩy 5 nhóm việc thiện nguyện: bảo vệ môi trường, cứu trợ, giáo dục, dịch vụ y tế và bảo tồn di sản.
Những thành quả mà dự án trên đem lại đã được quốc tế công nhận. Năm 2010, Đức Pháp Vương được Liên Hợp Quốc trao tặng giải thưởng "Vì mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ" (MDG). Ảnh: Drukpa VN
phap-vuong-11-white-lotus-9706-139606462
Một trong các dự án khác của Ngài là ngôi trường học mang tên Druk White Lotus (Bạch Liên Hoa) ở Ladakh, Ấn Độ. Công trình đã đạt được rất nhiều giải thưởng quốc tế về thiết kế bền vững, trong đó có 3 giải thưởng kiến trúc thế giớii (năm 2002) và giải thưởng thiết kế xuất sắc của Hội đồng Anh về Môi trường Học đường (năm 2009). Trong sự nhìn nhận của công chúng, ngài đề cao truyền thống trong khi có những mục tiêu và cách tiếp cận hiện đại, vì thế thu hút nhiều người ngưỡng mộ và tu tập theo. Ảnh: gre.ac.uk
kungfumain-1798-1396064624.jpg
Ủng hộ mạnh mẽ quyền bình đẳng của nữ giới, Đức Pháp Vương đã thành lập Tự viện Druk Gawa Khilwa ở ngoại ô Kathmandu, Nepal và ở Ladakh, Ấn Độ. Tại đây, phụ nữ được hướng dẫn tu tập tâm linh và được dạy những pháp môn mà trước đây chỉ dành riêng cho nam giới. Tự viện này còn nổi tiếng với bài tập đồng diễn Kungfu mỗi ngày. Ảnh: Drukpa-nuns.org
Đức Pháp Vương còn phát động chuyến hành hương Pad Yatra (bộ hành tâm linh), thu hút hàng trăm  người tham gia mỗi năm. Đây là chuyến đi bộ vì môi trường. Thành viên trong đoàn sẽ thu gom rác thải nhựa trên đường đi để kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ môi trường.
"Theo suy nghĩ ban đầu của tôi, hoạt động này sẽ không được tổ chức một năm một lần, nhưng thực tế ngược lại. Chúng ta thực sự cảm thấy thích thú và đam mê bộ hành tâm linh", Ngài chia sẻ sau chuyến bộ hành năm 2010. Trong ảnh là Đức Pháp Vương trong một chuyến bộ hành nhặt rác trên dãy Himalaya. Ảnh: Drukpa VN
c-Phap-Vuong-trong-m-t-ch-3718-139606462
Năm 2010, các thành viên và  tình nguyện viên của Truyền thừa Drukpa đã phá Kỷ lục Guinness Thế giới về trồng cây tại Himalaya trong thời gian ngắn nhất, với 50.033 cây xanh được trồng trong vòng 33 phút.
"Ngày nay, chúng ta chỉ chú ý đến sự khác biệt giữa con người với nhau và làm thế nào để người khác công nhận mình. Chính bởi những mâu thuẫn nhỏ nhất có thể gây ra chiến tranh quy mô lớn, lãng phí sinh mạng vô ích. Vì vậy, chúng ta nên đoàn kết với nhau, làm những điều có ích vì một mục đích chung", Đức Pháp Vương tâm sự sau lễ nhận Kỷ lục Guinness. Ảnh: Drukpa VN
c-Phap-Vuong-va-ngu-i-dan-4415-139606462
Năm 2013, Liên Hợp Quốc tiếp tục vinh danh Đức Pháp Vương là “Người bảo hộ của vùng Himalaya” và trao tặng giải thưởng “South - South Awards” cho những nỗ lực nhân đạo và đóng góp bảo tồn môi trường thế giới của Ngài. Ảnh: Drukpa VN 
c-Phap-Vuong-du-c-vinh-da-7716-139606462
Truyền thừa Drukpa khởi nguồn từ Ấn Độ cách đây gần một nghìn năm, có ảnh hưởng rộng khắp các quốc gia và lãnh thổ trên dãy Himalaya như Ladakh, Nam Ấn, Tây Bengal, Nepal, Bhutan... Ngày nay, các trung tâm tu học của Truyền thừa Drukpa tiếp tục được phát triển tại châu Á, châu Âu, châu Mỹ La tinh và nhiều nhóm thực hành tại Bắc Mỹ.
Trong ảnh là Đức Pháp Vương cùng hai Nhiếp Chính Vương Thuksey Rinpoche (trái) và Khamtrul Rinpoche. Ảnh: Drukpa VN 
c-Phap-Vuong-va-hai-Nhi-p-2237-139606462
Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa XII đã 5 lần thăm Việt Nam để cầu nguyện quốc thái dân an, cầu siêu vong hồn, đóng góp trí tuệ và hướng đạo trong việc xây dựng di sản kiến trúc văn hóa Phật giáo cho nhân dân Việt Nam.
Chuyến thăm sắp tới của Ngài dự kiến diễn ra từ ngày 5 đến 21/4. Trong ảnh là Đức Pháp Vương và Nhiếp Chính Vương Khamtrul Rinpoche trong chuyến thăm Việt Nam năm 2007. Ảnh: Drukpa VN 
Đức Dương

---ooo0ooo---

BỒ CÂU JACOBIN

BỒ CÂU JACOBIN
vnexpress.net
-o0o-
Bồ câu Jacobin có hình dáng đặc biệt với phần lông vũ bao quanh cổ và vượt cao quá đầu, được đánh giá là giống chim bồ câu có vẻ ngoài thu hút.
3-6331-1400900407.jpg
Bồ câu Jacobin là giống chim bồ câu cảnh. Cùng với nhiều loài chim bồ câu được thuần hóa khác, chúng là thế hệ sau của chim bồ câu đá (Columba livia ).
1-1135-1400900407.jpg
Đặc trưng của loài chim này là ở lớp lông rậm quanh cổ, mở rộng cao quá đầu và dựng thẳng. Với đặc điểm này, mặt của chúng chỉ có thể được nhìn thấy từ đằng trước.
5-8731-1400900407.jpg
Bộ lông có thể có một màu trắng muốt, hoặc cũng có loài chim mang lông xám hay lông đa màu. Chim có lông vũ dài, chân dài và đuôi mỏng.
untitled2-JPG-1259-1400900407.jpg
Jacobin là một trong những giống chim bồ câu thuần hóa lâu đời nhất thế giới. Tuy nhiên, nguồn gốc của loài này hiện chưa được nghiên cứu chính xác. Một số chuyên gia cho rằng chúng có nguồn gốc từ Ấn Độ hoặc là loài bản địa của đảo Cyprus. Chúng xuất hiện ở châu Âu từ khoảng thế kỷ 16, sau đó được trải qua 4 giai đoạn phát triển do các chuyên gia lai tạo thực hiện. .
Jacobin-Pigeon-4998-1400900407.jpg
Vì tầm nhìn bị hạn chế nên loài chim bồ câu này gần như không thể bay. Thay vào đó, chúng chỉ di chuyển trên mặt đất.
4-9100-1400900407.jpg
Bồ câu Jacobin ăn khá ít và được đánh giá là những ông bố bà mẹ tốt khi chăm sóc chim bồ câu con.
Linh Anh (Theo Odditycentral)
---ooo0ooo---




DI SẢN TG Ở CHÂU ÂU (1)

DI SẢN THẾ GIỚI TẠI CHÂU ÂU (1)
BKTT WIKIPEDIA
-o0o-
Trung tâm lịch sử của Berat và Gjirokastra, Albania 
Butrint, Albania
Thung lũng Madriu-Claror-Perafita, Andorra
Cầu máng Pontcysyllte, Anh
the gioi den trang tri
Các lâu đài và công trình phòng thủ
của vua Edward đệ nhất tại Gwyneld, Anh:
Lâu đài Beaumaris
Lâu đài Caermarfon
Lâu đài Conwy
Lâu đài Harlech
---ooo0ooo---